Tái hoang dã để cứu Hành tinh – Rewilding to Save the Planet

Thứ ba, ngày 8, tháng 6, năm 2021; viết bởi Marion Kudla

TÁI HOANG DÃ: GIỚI THIỆU

Trong năm năm qua, nhiều thứ đã thay đổi ở Vườn Yellowstone. Những hàng Liễu phát triển dọc các nhánh sông. Chim Họa Mi hót líu lo từ các nhành cây. Đập Hải Ly được bồi đắp từ các nhành Liễu. Nếu may mắn, bạn có thể thấy một con Hải Ly đang vẫy đuôi trên mặt nước.  Hai mươi lăm năm trước,  bạn khó tìm thấy một trong những loài này. Điều gì đã thay đổi? Và điều gì đã giúp cải thiện hệ sinh thái này? Loài sói.
Trước những năm 1900, những bầy Sói lang thang khắp nước Mỹ.  Nhưng vào đầu thế kỷ 20, quần thể Sói giảm vì mất môi trường sống và bị săn bắn.  Vào năm 1973, chính phủ, các nhà khoa học và các nhóm bảo tồn sử dụng các biện pháp để khôi phục quần thể Sói đang suy giảm. Sở Bảo tồn Động Vật hoang dã và Cá liệt kê sói vào danh sách các loài nguy cấp và xây dựng Hệ sinh thái Greater Yellowstone thành khu phục hồi. Và hai mươi lăm năm trước, 41 cá thể sói được thả vào Yellowstone. Nhiều loài khác đã biến mất vì quần thể sói giảm, như chim Họa Mi và Hải Ly đã bắt đầu tái xuất hiện.
Trước khi đưa Sói trở lại, quần thể Nai sừng tấm Yellowstone cũng biến mất. Nếu không có các con Sói săn Nai sừng tấm, Nai sừng tấm có thể gặm quá nhiều loài cây như Liễu, Dương và Bông gòn. Cây Liễu quan trọng đối với Hải Ly, vì chúng sử dụng cành Liễu để xây đập.  Khi dân số Nai sừng tấm phát triển và chúng gặm cây/cỏ quá mức ở các nhánh sông, các loại cây chính yếu biến mất, dẫn đến sự biến mất của loài hải ly. Khi các cá thể sói được mang trở lại Yellowstone, chúng giúp kiểm soát dân số Nai sừng tấm, do đó, cây cối và các loại động vật khác cũng xuất hiện trở lại.
Chương trình mang loài Sói trở lại với mục tiêu không chỉ phục hồi quần thể Sói, mà còn phục hồi sức khỏe toàn diện của hệ sinh thái Yellowstone. Khái niệm Bảo tồn và mang các loài trở lại tự nhiên nhằm giúp phục hồi sức khỏe sinh thái được gọi tên là Tái hoang dã.  Vì, các hệ sinh thái trên thế giới đang trên bờ sụp đổ, tái hoang dã có thể là phương pháp giúp phục hồi sự đa dạng sinh học của cả hành tinh – và cứu chính chúng ta.

TÁI HOANG DÃ LÀ GÌ?


Dave Foreman, nhà sinh học bảo tồn đã định nghĩa Tái hoang dã trong tài liệu Trái đất Hoang dã được xuất bản vào mùa Thu, năm 1992. Vài năm sau, hai nhà sinh học bảo tồn người Mỹ là Michael Soulé và Reed Noss tiếp tục phát triển khái niệm này. Trong bài viết rất đáng tham khảo của họ từ năm 1998, Soulé và Noss đã định nghĩa tái hoang dã là nỗ lực bảo tồn “nhấn mạnh sự phôi phục và bảo tồn sự hoang dã quy mô lớn, gồm nhiều loài động vật – cụ thể là các loài động vật ăn thịt” (Soulé và Noss, 1998).
Cụ thể hơn, tái hoang dã là phương pháp bảo tồn với trọng tâm phục hồi sự đa dạng sinh học và sức khỏe sinh hệ sinh thái bằng cách thực hiện ba điều sau:
  1. Bảo vệ các khu hoang dã trọng điểm
  2. Kết nối các khu vực này với các cầu vượt dành cho động vật hoang dã [các cây cầu với môi trường tự nhiên để liên kết khu vực hoang dã trọng điểm với khu vực khác]
  3. Bảo vệ và mang trở lại các loài chính yếu những loài mang lại nhiều lợi ích cho hệ sinh thái hơn quy mô quần thể của chúng
Từ cuối những năm 90, phương pháp này đã được áp dụng toàn cầu. Và chính từ thuật ngữ này nhiều phương pháp được phát triển:
  • Tái hoang dã chuyển chỗ: gồm việc mang các cá thể Sói trở lại Công viên Yellowstone. Tái hoang dã chuyển chỗ mang các loài gần đây bị tuyệt chủng tại địa phương trở lại, hoặc trả tự do cho các loài để tăng quần thể hiện tại. Cả hai phương pháp nhằm phục hồi hệ sinh thái cân bằng với sự tương tác qua lại giữa tất cả các loài.
  • Tái hoang dã bị động: để tự nhiên thực hiện theo các của riêng nó. Con người ngừng can thiệp và để tự nhiên tự chữa lành.
  • Tái hoang dã thời trung kỷ pleitoxen: gồm việc mang các loài từ thời trung kỷ pleitoxen trở lại – thời trung kỷ pleitoxen hay còn gọi là kỷ Băng Hà – kết thúc vào khoảng 12,000 năm trước. Vào cuối kỷ Băng Hà, nhiều động vật mà chúng ta biết đến trong thời kỳ này, như: voi răng mấu, hổ răng kiếm, và voi ma mút lông đã tuyệt chủng hàng loạt. Các nhà sinh vật học ủng hộ tái hoang dã thời trung kỷ pleitoxen cho rằng: sự tuyệt chủng của các loài động vật lớn này tạo ra hệ sinh thái không cân bằng. Họ tin rằng: bằng cách mang các loài ở thời kỳ trung kỷ pleitoxen trở lại nhờ vào công nghệ điều chỉnh gien của các loài tương tự ở hiện tại (chúng ta sẽ thảo luận thêm bên dưới) hoặc giới thiệu các loài tương tự đang tồn tại, các hệ sinh thái có thể được phục hồi.

CÁC NỖ LỰC TRIỂN KHAI TÁI HOANG DÃ TRÊN THẾ GIỚI

Vườn Yellowstone ở Bắc Mỹ là ví dụ điển hình về việc tái hoang dã được sử dụng để phục hồi các hệ sinh thái trên thế giới.  Các nỗ lực toàn cầu này gồm ba phương pháp tiếp cận. Mời các bạn tham khảo các nghiên cứu điển hình bên dưới:

TẠI VƯƠNG QUỐC ANH

Nguồn: Knepp Wildland
Sơ lược: Knepp Estate. Dự án tái hoang dã triển vọng và tiên phong tại Anh Quốc đã biến bất động sản của giới quý tộc thành khu bảo tồn đa dạng sinh học. Vài loài hiếm nhất ở Anh Quốc như: Bướm hoàng đế tím sống ở đây.  Đây là ví dụ về tái hoang dã bị động mang lại hy vọng nhân rộng mô hình khắp nơi.
Phong trào tái hoang dã đã bám rễ mạnh tại Vương Quốc Anh.  Nhiều dự án đang được triển khai khắp Vương Quốc Anh. Một ví dụ điển hình từ miền Nam nước Anh.
Knepp Estate là bất động sản rộng 3,500 mẫu ở Hạt West Sussex, miền Nam nước Anh.  Kể từ năm 2001, đây là dự án tiên phong trong các nỗ lực tái hoang dã tại Vương Quốc Anh. Hơn 200 năm qua, bất động sản này được sử dụng cho ngành chăn nuôi trứng-sữa.  Nhiều đất đai bị khai hoang để làm đồng cỏ, vì thế các động vật hoang dã không thể tiếp tục sống tại đó.
Tuy nhiên, vào năm 2001, bất động sản này trở thành nơi triển khai dự án tái hoang dã. Người ta khuyến khích để đất tự phục hồi với sự tác động tối thiểu của con người, chỉ sử dụng động vật gặm cỏ. Không như bò sữa thải ra khí mêtan, góp phần vào biến đổi khí hậu và cần các đồng cỏ bằng phẳng, các động vật gặm cỏ khác, như: gia súc, ngựa con, heo và nai, chăn thả tự do ở rừng và các không gian mở.  Lưu ý, sự khác biệt giữa bò sữa chăn thả ở đồng cỏ và gia súc chăn thả tự do là cả hai đều thải ra khí mêtan, nhưng gia súc chăn thả tự do triệt tiêu tác động tiêu cực lên khí hậu bằng cách phục hồi môi trường sống, như được nêu bên dưới.
Nguồn:  Knepp Wildland
Các sinh vật chăn thả tự do có thể mang lại chuỗi phản ứng tích cực rộng khắp: gặm cỏ và lang thang ở các vùng cây bụi, các động vật ăn cỏ giúp giảm sự dày đặc quá mức của rừng cây gỗ.  Rừng cây gỗ dày đặc và bụi cây ngăn cản các loài di chuyển tự do, kiếm ăn và sinh sản – môi trường sống nghèo nàn đối với các loài hoang dã.  Các động vật chăn thả cũng có thể phân tán các chất dinh dưỡng và hạt, bằng cách mang chúng trên lông hoặc thải phân.  Điều này giúp phân tán các loài cây và làm giàu thảm thực vật.
Việc chăn thả các động vật này và để tự nhiên tự chữa lành mang lại kết quả tích cực tại Knepp Estate. Nhiều loài hiếm hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng đã và đang trở lại: chim cu gáy, chim sơn ca, chim ưng peregrine, và bướm hoàng đế tím.  Nhiều loài hiếm hoặc nguy cấp trú và sinh sản an toàn tại Knepp Estate  – một trong ít nơi tại Vương Quốc Anh.  Knepp Estate có nhiều số liệu đáng tự hào, tự hào là nơi có quần thể bướm hoàng đế tím lớn nhất tại Vương Quốc Anh; sự xuất hiện thường xuyên của một trong những loài chim hiếm nhất tại Tây Âu: cò đen; và tất cả năm loài cú của Anh.
Nguồn: Knepp Wildland
Nơi trú ẩn này dành cho các loài hiếm và nguy cấp  là một biện pháp triển vọng không chỉ đối với Vương Quốc Anh, mà còn đối với các nỗ lực tái hoang dã toàn cầu. Khi các không gian hoang dã và môi trường sống an toàn đang tan vỡ, những nơi như Knepp Estate mang lại các giải pháp tiềm năng và tạo ra những tia hy vọng.  Có được những khu vực hoang dã như Knepp Estate cực kỳ quan trọng, nếu chúng ta mong muốn bảo tồn sự đa dạng sinh thái giàu có của hành tinh này.
Tuy nhiên,  Knepp Estate gần đây đang đối mặt với những thách thức. Hiện tại, Knepp Estate đang hoạt động giống như cầu vượt dành cho động vật hoang dã nối rừng St Leonard với Ashdown. Cầu vượt này giúp các loài di chuyển an toàn giữa các môi trường sống. Nhưng sự phát triển đô thị dự kiến với 3,500 ngôi nhà mới có thể biến cầu vượt Knepp Estate thành một ốc đảo.
Tất nhiên, có sự phản đối kịch liệt đối với dự án phát triển đô thị này. Liệu dự án tái hoang dã đang bung nở này có thể tiếp tục cung cấp nơi trú ẩn an toàn cho các loài hiếm và nguy cấp tại Vương Quốc Anh không?

NGA

Nguồn: Công viên Pleistocene
Sơ lược: Vườn Pleistocene ở Siberia. Một ví dụ điển hình về tái hoang dã Pleistocene. Không chỉ cố gắng tái hoang dã thảo nguyên ở Nga, mà còn giảm thiểu biến đổi khí hậu đang diễn ra.
Siberia ở Nga được biết đến là nơi có khí hậu lạnh và cô lập. Nhiều người biết đến vùng này là khu vực đi đày trong lịch sử của Nga. Ít người biết đây là công viên tái hoang dã.
Vườn Pleistocene ở miền Bắc Siberia là vùng dự án tái hoang dã. Được vận hành bởi gia đình Zimov – ông Sergey Zimov và con trai Nikita Zimov – kể từ những năm cuối 1980, Vườn này tìm kiếm hệ sinh thái thảo nguyên cho voi ma mút; nói cách khác, là để phục hồi vùng đất trở lại như thời kỳ voi ma mút lông đang còn lang thang tại đây cuối kỷ nguyên Băng Hà.  Như thế nào? Và quan trọng hơn là tại sao?
Vườn Pleistocene là ví dụ đầu tiên về tái hoang dã Pleistocene: mang các loài trở lại để giúp cân bằng các hệ sinh thái đã tồn tại trước khi có sự tác động của con người.  Vườn này sử dụng nhiều loài động vật có vú ăn cỏ như nai sừng tấm, trâu xạ hương, bò xạ hương, bò rừng, bò Tây tạng, v.v… để thay đổi quang cảnh.  Các loài động vật ăn cỏ này sẽ ngăn cây tán rậm phát triển và giúp các loại cỏ mọc tốt. Vì thế, những đồng cỏ tương tự trong thời kỳ trung kỷ Pleitoxen đã lan rộng khắp công viên. Tại sao điều này lại quan trọng đến vậy?
Những đồng cỏ này là những nhân tố có ảnh hưởng lớn đối với phong trào chống biến đổi khí hậu.  Tầng đất bị đóng băng vĩnh cửu, lớp đất dày bị đóng băng mãi mãi ở những nơi khí hậu lạnh như Siberia chứa nhiều carbon. Tuy nhiên, nhiệt độ nóng lên do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đe dọa làm tan tầng đất này. Khi điều đó xảy ra, tầng đất đóng băng vĩnh cửu trước kia biến chất hữu cơ bị đóng băng thành khí nhà kính.
Động vật có vú gặm cỏ có thể thay đổi toàn bộ điều đó.  Khi chúng gặm cỏ vào mùa đông, chúng di chuyển và giẫm tuyết xuống. Vì thế, tuyết sẽ trở thành lớp bảo vệ phía trên tầng đất đóng băng vĩnh cửu và ngăn tầng đất vĩnh cửu tan chảy và thải ra các khí nhà kính.  Một lý do khác giải thích tại sao các đồng cỏ có thể giúp ngăn chặn biến đổi khí hậu là màu sáng.  Bởi vì các đồng cỏ sáng hơn các bụi rậm hoặc cây cối, bề mặt phản chiếu ánh sáng mặt trời, giữ bề mặt trái đất mát.  Đây gọi là hiệu ứng albedo.
Nguồn: Vườn Pleistocene
Cuối cùng, cỏ kỷ nguyên trung kỷ Pleitoxen với hệ thống rễ bám sâu có thể hấp thụ nhiều carbon từ bầu không khí hơn hầu hết các loài cây hiện đại. Các đồng cỏ như Vườn Pleistocene có thể đóng vai trò là các vùng lưu trữ carbon mạnh mẽ vì sự thải carbon đang gia tăng khắp thế giới.
Hơn nữa, để mang các động vật ăn cỏ trở lại, Vườn Pleistocene đang chịu trách nhiệm triển khai kế hoạch táo bạo hơn: mang voi ma mút lông trở lại. Với sự hỗ trợ từ Church Lab ở Harvard và tổ chức bảo tồn động vật hoang dã Revive & Restore, gia đình Zimovs hy vọng làm hồi sinh voi ma mút lông.  Như các động vật ăn cỏ kích thước lớn, voi ma mút lông có thể khôi phục đồng cỏ Pleistocene hiệu quả hơn.
Các nhà khoa học có thể  mang voi ma mút lông trở lại bằng cách sử dụng công nghệ điều chỉnh gien. Trong trường hợp này, các nhà khoa học điều chỉnh các gien của các loài động vật gần với voi ma mút lông nhất: voi Châu Á. Bằng việc đưa các đặc tính (như: lông) của voi ma mút lông sang voi Châu Á, những con voi được điều chỉnh gien này có thể sống với điều kiện bắc cực ở Vườn Pleistocene. Những nỗ lực này nhằm mang các loài trở lại được gọi là tái sinh.
Tuy nhiên, có những ý kiến trái chiều liên quan đến những nỗ lực này. Những người phản đối quan ngại, liệu con người có quyền làm rối loạn các quy luật tự nhiên. Những người phản đối khái niệm tái hoang dã Pleistocene; đồng thời, họ cũng biện luận rằng tái hoang dã các động vật ngoại lai sẽ không giúp khôi phục các hệ sinh thái khỏe mạnh của kỷ nguyên Pleistocene.  Hơn nữa, cảnh quang đã tiến hóa quá nhiều kể từ sau đó không thể trở lại như trước đây.  Đồng thời, họ cũng cảnh báo rằng: tái hoang dã Pleistocene có thể mang lại những hậu quả khôn lường và không đáng để mạo hiểm.

TANZANIA

Sơ lược: Vườn Quốc Gia Kitulo ở Tanzania. Các nỗ lực tái hoang dã chuyển chỗ nhằm mang trở lại một vài loài mang tính biểu tượng nhất thế giới: ngựa vằn. Đây là ví dụ về phương pháp tiếp cận toàn diện để thực hiện các nỗ lực tái hoang dã.
Khi mường tượng về các đồng cỏ ở Châu Phi, hình ảnh loài động vật nào xuất hiện trong đầu bạn? Sư tử? Linh dương và Linh dương Gazen? Ngựa vằn. Tất cả những động vật sôi động này gắn liền với Châu Phi.  Nhưng, hãy tượng tượng xem, nếu chúng biến mất.
Đó là điều đã xảy ra với những cá thể ngựa vằn ở Tanzania trong năm mươi năm trước. Một câu chuyện quen thuộc lặp lại tại nhiều nơi trên thế giới.  Nửa thế kỷ trước, ngựa vằn bị săn bắn đến tuyệt chủng hoặc bị chuyển chỗ, vì con người lấy đất chăn nuôi và trồng trọt.
Tuy nhiên, vào năm 2018,  Hiệp hội Bảo tồn Đời sống hoang dã (WCS) ở Tanzania  mang ngựa vằn trở lại Vườn Quốc gia (VQG) Kitulo ở Tanzania, vùng cao nguyên phía Nam.  Các cá thể ngựa vằn được mang trở lại gồm 16 cá thể cái trưởng thành/chưa hoàn toàn trưởng thành, sáu cá thể đực trưởng thành/chưa hoàn toàn trưởng thành, và hai cá thể đực trưởng thành.
Việc mang trở lại các cá thể ngựa vằn này là một phần trong những nỗ lực tái hoang dã tại khu vực và đây là ý tưởng khởi phát từ đầu những năm 2000, bởi Tiến sĩ Tim Davenport, Giám đốc Chương trình Tanzania WCS, người đã thiết kế dự án mang các loài trở lại.
Davenport chia sẻ tại Họp báo WCS, “Thật xúc động khi thấy những con ngựa vằn di chuyển khắp cao nguyên giống như nhiều thế kỷ trước. Sự hợp tác này chứng tỏ rằng chúng ta có thể phục hồi đời sống hoang dã tại nơi cảnh quang đã bị suy thoái – chúng ta sẽ làm được với sự hỗ trợ của khoa học và chính trị.”
Các nỗ lực tái hoang dã tại VQG Kitulo ở Tanzania không chỉ dừng lại ở những con ngựa vằn. WCS đã trồng 4 triệu cây bản địa và chăm sóc các vùng núi hiếm của khu vực, hoặc các đồng cỏ. Những cây được trồng lại này sẽ hoạt động như những cây cầu vượt dành cho động vật hoang dã để các loài có thể di chuyển an toàn từ môi trường sống này qua môi trường sống khác.
Tiến sĩ Daveport chia sẻ: như tại Knepp Estate, các nỗ lực tái hoang dã tại VQG Kitulo chứng minh rằng, việc khôi phục cảnh quang suy thoái là khả thi. Nếu bị mất một trong những loài động vật biểu tượng nhất tại Tanzania – thậm chí còn là biểu tượng của Châu Phi – các nhà bảo tồn và các nhà hoạt động có thể phục hồi chúng thành công tại môi trường sống bản địa, điều đó có nghĩa là dự án có tính khả thi tại những vùng khác.
Với các nỗ lực tái hoang dã tại VQG Kitulo, các đồng cỏ ở Châu Phi có thể trở thành nơi cho nhiều loài động vật – không chỉ trong tưởng tượng của chúng ta.

NEW ZEALAND

South Island Takahe – Porphyrio hochstetteri
Nguồn: Simon Fordham/NaturePix
Sơ lược: Đảo Tiritiri Matangi  tại New Zealand. Đảo trú ẩn đối với vài loài chim nguy cấp nhất của quốc gia này.  Đây là phát thảo đầu tiên dành cho những dự án tái hoang dã khác và là một ví dụ về những nỗ lực khoa học và đoàn kết dân sự.
Đảo Tiritiri Matangi tọa lạc 30km phía đông trung tâm Auckland.  Hòn đảo với diện tích 220-mẫu này là một trong những dự án tái hoang dã bảo tồn thành công trên thế giới.  Mỗi năm, đảo thu hút hơn 20,000 lượt khách.  Du khách từ nhiều nơi trên thế giới đến để được nhìn ngắm những loài quý hiếm như chim kokako và chim takahe.  Nhưng nơi này không phải lúc nào cũng là hệ sinh thái hưng thịnh.
Giống như nhiều câu chuyện tái hoang dã khác mà chúng ta đã biết, hòn đảo trải qua sự mất mát lớn về thảm thực vật.  Khi những người di cư từ Châu Âu đến định cư tại đảo vào giữa thế kỷ 19, họ đã khai phá nhiều đất đai để trồng trọt. Người Maori đã sống trên đảo 400 năm trước, vì thế hòn đảo trải qua sự tiếp xúc với loài người. Tuy nhiên, sau khi người Châu Âu định cư, đảo này mất 94% các bụi rậm bản địa.
Trong giai đoạn từ 1984 và 1994, một nỗ lực táo bạo nhằm triển khai tái hoang dã. Một nhóm tình nguyện viên đã trồng  250,000 – 300,000 cây.  Điều này giúp hệ sinh thái khỏe mạnh trở lại. Bây giờ, sáu mươi phần trăm đảo được bao phủ bởi rừng bản địa, và 40% đồng cỏ.  Chim, bò sát và côn trùng không thể tìm thấy nơi cư trú ở đất liền và quay trở lại đảo.
Ví dụ: những loài chim như takahe tìm nơi trú ẩn an toàn trên đảo, nơi mà chúng có thể kiếm ăn và sinh sản. Với khoảng  200 con chim còn lại trong tổng dân số, hòn đảo cung cấp nơi trú ẩn cho những loài chim hiếm này và ngăn chặn các loài khỏi bị biến mất hoàn toàn.
Hơn nữa, nhằm thực hiện những nỗ lực trồng cây vào những năm 80 và 90, một lý do khác lý giải tại sao những nỗ lực tái hoang dã diễn ra thành công trên đảo, là việc loại bỏ các loài săn mồi xâm lấn và không mong muốn. Khi những người định cư từ Châu Âu đến, những loài săn mồi như mèo nhà, chuột và động vật có túi được mang trở lại đảo và làm suy giảm quần thể chim bản địa.  Vì vậy, sự loại bỏ đó đã giúp phục hồi quần thể các loài bản địa.
Tuy nhiên, phương pháp tái tự nhiên này không phải lúc nào cũng nhận được sự đồng thuận. Các phương pháp loại bỏ sâu bệnh ở New Zealand gồm sử dụng các chất độc mà các nhà phê bình cho rằng chúng gây hại đến tất cả các loài động vật, kể cả các loài bản địa.  Những nỗ lực này là một phần trong mục tiêu của chính phủ New Zealand nhằm thả tự do loài săn mồi vào năm 2050.  Bên cạnh những tác động nhằm đẩy lùi các phương pháp liên quan đến nỗ lực này, vẫn có sự ủng hộ toàn diện đối với dự án tái hoang dã toàn quốc.
Các nỗ lực tái hoang dã tại Đảo Tiritiri Matangi phát thảo những nét vẽ đầu tiên cho các dự án trú ẩn khác tại New Zealand, cũng như trên khắp thế giới, với hy vọng bảo vệ các loài bản địa.  Các khu trú ẩn như Đảo Tiritiri Matangi cung cấp các không gian an toàn chủ yếu cho các loài hiếm hoặc nguy cấp tại New Zealand.
Những nơi trú ẩn này với quần thể khỏe mạnh có thể còn làm gia tăng quần thể ở những khu vực nguy cấp khác.  Bằng cách cung cấp những cá thể sinh sản và khỏe mạnh nhằm góp phần làm gia tăng quần thể các loài ở những đảo có ít loài hơn, ví dụ: các nhà bảo tồn có thể tăng cường các quần thể  ở những nơi khác.
Vì những lý do này, đảo Tiritiri Matangi duy trì khu vực tái hoang dã chính nhằm giúp New Zealand phục hồi quẩn thể loài bản địa duy nhất.

PATAGONIA | CHILE VÀ ARGENTINA

Nguồn: Quỹ Bảo tồn Tompkins
Sơ lược: Quỹ Bảo tồn Tompkins mua những vùng đất ở Chile và Argentina để biến chúng thành các vườn quốc gia. Ví dụ về thiện nguyện tái hoang dã đi đầu trong những nỗ lực bảo tồn tự nhiên.
Từ những năm 1990, Doug và Kristine Tompkins là những người đi đầu các phong trào thiện nguyện những vùng đất hoang dã toàn cầu.  Kristine Tompkins, Cựu CEO của thương hiệu áo quần Patagonia và chồng quá cố của bà là Doug Tompkins, ông trùm thời trang áo quần hãng The North Face và Esprit, đã đóng góp vào những nỗ lực tái hoang dã tại Argentina và Chile trong một phần tư thế kỷ.
Họ cùng nhau đóng góp 170 triệu $ vào các dự án tái hoang dã ở khu vực Patagonian, trải khắp Argentina và Chile. Họ đã nỗ lực gây quỹ với số tiền khoảng 45 triệu $ từ các nhà thiện nguyện khắp thế giới. Thông qua Quỹ Bảo tồn Tompkins và các đối tác, Tompkins đã giúp 14 triệu mẫu đất và cứu các loài nguy cấp.
Các dự án tái hoang dã của họ dựa vào hai nguyên tắc chính: 1. Mua đất để biến chúng thành các vườn quốc gia, và 2. Thiết lập các chương trình đời sống hoang dã mang các loài bản địa trở lại các vườn quốc gia này. Với tầm nhìn đó, họ đã cứu các loài sẽ nguy cấp như hươu sao, cọp, chim rhea, chim săn mồi Andean, và mèo pampas ở Chile, và thú ăn kiến khổng lồ, báo đốm và vẹt đuôi dài cánh xanh ở Argentina.
Nguồn: Quỹ Bảo tồn Tompkins
Trước sự ra đi đột ngột và bi kịch vào tháng 12/2015,  Doug Tompkins cảm thấy như bị thúc giục mua những vùng đất mênh mông này ở Patagonia.  Ông muốn mua càng nhiều đất càng tốt để ngăn sự tuyệt chủng hàng loạt lần thứ sáu. Thậm chí sau khi ông qua đời, Kris Tompkins đã giúp tiếp tục triển khai dự án này.
Vào năm 2018, Kris Tompkins và tổng thống Chile Michelle Bachelet đạt được thỏa thuận đột phá.  Quỹ Bảo tồn Tompkins bàn giao 9 triệu mẫu đất cho chính phủ Chile vào tháng 4/2019. Với thỏa thuận này, những vùng đất được chính phủ bảo vệ, và sau đó phát triển liên tiếp thêm năm và ba vườn quốc gia nữa.  Quỹ Bảo tồn Tompkins  quyên tặng các khu vườn đã đi vào hoạt động, đây là dự án quy mô nhất trong lịch sử thiện nguyện các vùng đất hoang dã.
Tuy nhiên, các dự án của Tompkins không phải lúc nào cũng được chào đón.  Khi Tompkins mua đất ở Chile, những cặp mắt địa phương hoài nghi những hành động của họ. Hai triệu phú ngoại quốc mua rất nhiều đất đai. Thuyết âm mưu bắt đầu lan truyền.
Vài thuyết âm mưu cho rằng những triệu phú này đang sử dụng đất làm nơi xả chất thải hạt nhân.  Những người khác cho rằng Tompkins sắp đưa vào bò rừng Mỹ.  Ngoài các đồn đoán và thuyết âm mưu, còn có nhiều người địa phương tiếp tục phản đối các nỗ lực tái hoang dã của Tompkins.
Các trại chăn nuôi  tổ chức biểu tình vào năm 2013, họ sợ gia súc bị loại bỏ và những cuộc tấn công của cọp. Nhiều trại chăn nuôi địa phương xem những vườn quốc gia này là sự đe dọa lối sống truyền thống và coi trọng động vật hoang dã hơn gia súc.
Tuy nhiên, từ khi Doug Tompkins qua đời năm 2015, dư luận đã thay đổi.  Nhiều người dân Chile và Argentinia nhận thấy sự chân thành trong những nỗ lực của Tompkins.  Lúc đầu, những dự án của họ trông như sự chuyển đổi quyền lực đáng nghi hoặc được che đậy bởi những người Mỹ giàu có, nhưng hiện nay, dự án được công chúng đón nhận hơn với mục đích giáo dục và truyền cảm hứng cho mọi người về vẻ đẹp của Patagonia.
Qua một phần tư cuối của thế kỷ, Quỹ Bảo tồn Tompkins đã chứng tỏ sức mạnh thiện nguyện. Theo cách riêng, như đảo Tiritiri Matangi, Vườn Pleistocene, hoặc Knepp Estate, dự án thiện nguyện đất hoang dã của Tompkins đặt bước chân tiên phong cho những dự án kế tục.  Thông qua đầu tư cá nhân hoặc cộng đồng, hoặc yêu cầu khoa học, các nỗ lực tái hoang dã toàn cầu cần tất cả các công cụ hợp lực.

NHỮNG THÁCH THỨC VÀ  CÁC Ý KIẾN TRÁI CHIỀU

Như đã đề cập ở các phần trên, những tranh luận ủng hộ hoặc phản đối tái hoang dã có thể tiếp tục từ ngày này qua tháng khác.  Những nghiên cứu thí điểm chỉ là những vết cào ở bề mặt những thách thức và ý kiến trái chiều về tái hoang dã. Tái hoang dã thu hút nhiều người ủng hộ và đã tạo được thành công khắp thế giới, nhưng cũng có những nỗ lực thất bại và nổ ra nhiều tranh cãi vềtính đạo đức, chính trị và khoa học chống tái hoang dã.
Một số người không  thích ý tưởng những động vật hoang dã di chuyển ở sân sau nhà.  Bên cạnh nhiều thái độ khác nhau hướng về loài sói và việc đưa chúng trở lại, những nỗ lực của Vườn Yellowstone đối diện sự phản kháng mạnh của những chủ sở hữu đất địa phương.  Những người phản đối này lo lắng về sự an toàn của chính họ, những người nông dân, và những người chăn nuôi, họ lo những con sói sẽ giết chết gia súc.
Một ví dụ khác: từ Bắc Mỹ, những nhà khoa học người Mỹ muốn mang dự án tái hoang dã Pleistocene đến Bắc Mỹ (như Vườn Pleistocene ở Siberia). Tuy nhiên, một số khác cho rằng, việc mang voi ma mút kỷ nguyên Pleistocene trở lại Bắc Mỹ có thể giảm sự đa dạng của các loài hoặc  gây hại cho những nỗ lực vì môi trường khác ở vùng Great Plains, như sự trở lại của các đàn trâu ở các vùng đất bảo tồn bản địa ở Mỹ.
Bên cạnh những ý kiến trái chiều, một vài dự án tái hoang dã vẫn đối mặt với những thách thức kịch tính. Oostvaardersplassen ở Hà Lan hứng chịu sự giận dữ của công chúng vào năm 2018.  Đây là vùng dự án tái hoang dã thất bại.
Vài loài săn mồi ở khu bảo tồn với diện tích nhỏ 5,000 héc ta,  quần thể động vật gặm cỏ tiêu tan.  Vào mùa đông 2017-2018,  khi thời tiết lạnh hơn nhiều và ẩm ướt hơn bình thường. Với quần thể lớn các động vật ở một vùng đất diện tích nhỏ và nguồn lương thực hạn chế trong suốt mùa đông, nhiều động vật chết đói.  Quần thể nai đỏ, ngựa và gia súc giảm từ 5,230 xuống còn 1,850. Gần 90% động vật chết do bị bắn bởi Cục Kiểm lâm Hà Lan, các nhân viên quản lý vườn, bởi vì chúng sắp chết đói.
Kim Ward chia sẻ, trong cộng đồng bảo tồn, lịch sử và định nghĩa tái hoang dã và sự kết nối với khái niệm ‘hoang dã.’ vẫn mang tính tranh cãi. ‘Giải mãi tái hoang dã? Nơi hoang dã hay tình trạng hoang dã?’ khôi phục nơi hoang dã và trả lại cảnh quang thời điểm trước khi con người chạm vào là một ý tưởng xóa sổ hàng ngàn năm lịch sử văn hóa.  Khái niệm tái hoang dã về trạng thái ‘hoang dã’— nghĩa là tự nhiên ‘không bị chạm vào’ bởi loài người – là ý tưởng xuất phát từ quan điểm thuộc địa phụ hệ của người da trắng. Quan điểm này bỏ quên văn hóa bản xứ mà có thể đã tồn tại ở vùng đất đó mười ngàn năm trước. Ward chia sẻ thêm, thay vì tranh luận như vậy, hãy tập trung vào những nỗ lực tái hoang dã để khôi phục ‘tình trạng hoang dã’, và chú trọng hơn vào ‘những suy diễn văn hóa đang tồn tại, những tác động xã hội và các sinh kế bản xứ,’.
Với bất kỳ phương pháp bảo tồn môi trường nào, tái hoang dã đòi hỏi việc lên kế hoạch và nghiên cứu cẩn thận.  Khi chúng ta, loài người can thiệp vào hệ sinh thái, chúng ta chấp nhận rủi ro làm xáo trộn mạng lưới phức tạp của những kết nối bên trong.  Tuy nhiên, sau nhiều thế kỷ gián đoạn, tái hoang dã tạo ra một trong nhiều công cụ khả thi, mà chúng ta có thể sử dụng để chữa lành hành tinh.

Bạn có thể tham khảo thêm về Tái hoang dã

Feral, tác giả: George Monbiot
Rewild Yourself, tác giả: Simon Barnes
Hoang dã: The Return of Nature to a British Farm, tác giả: Isabella Tree
Tái hoang dã Bắc Mỹ: A Vision for Conservation in the 21st Century (tạm dịch: Tầm nhìn Bảo tồn ở thế kỷ 21) tác giả: Dave Foreman
Dịch từ nguồn tiếng Anh: https://rebellion.global/blog/2021/06/08/rewilding_to_save_planet/
Digiprove sealCopyright secured by Digiprove © 2021

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *